Đồng hành cùng Phong trào con đường Việt Nam!

MỘT KẾT CỤC TẤT YẾU

Đã khá lâu trang ANTIPTCDVN không cập nhật bình luận về PTCDVN như tiêu chí đặt ra ban đầu, vì cảm nhận được cái tổ chức này có có hơi hướm của sự bất bình thường, bất bình thường từ sự ra đời vội vã, rồi đến cái cách mời tham gia rất lạ, hay cái kiểu kết nạp thành viên dễ dãi đủ mọi thành phần… khiến người ta không khỏi hoài nghi về lập trường, tiêu chí của nó…

imageLTL

Nhưng nay thì đã quá rõ, sau 01 năm, người chủ xướng PTCDVN lần này lại cho dư luận thêm một phen bất ngờ, nhưng lần này chắc hẳn sẽ không còn ngạc nhiên, và vì thế mà người ta sẽ không còn trông đợi điều gì ở nó.

Nếu ai còn chút hoài nghi, xin hãy đọc hai bài sau đây của anh Lê Thăng Long thì sẽ rõ.

1.THƯ MỜI THAM DỰ HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG HÒA GIẢI DÂN TỘC VIỆT NAM

2. NHÀ HOẠT ĐỘNG VÌ QUYỀN CON NGƯỜI LÊ THĂNG LONG TUYÊN BỐ XIN RA KHỎI PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM

Chúng tôi cũng nhân dịp này xin được tuyên bố chấm dứt sứ mệnh lịch sử của trang blog này. Bởi kết cục này đã là quá đủ để đánh giá  về một sự kiện một thời gây xôn xao dư luận.

Dẫu tiếc nuối, song mỗi chúng ta đều nhận ra được rằng: điều bất ngờ nào cũng có thể đến từ thế giới ảo.

ANTIPTCDVN

Đọc và chia sẽ cho mọi người bạn nhé!
=========================
Biển và hải đảo ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế to lớn, mở ra một không gian sinh tồn mới, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mỗi nước. Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung đó vì nước ta là quốc gia có vùng biển và các đảo, gồm cả đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong biển Đông.

1/ Hỏi: Vị trí vai trò của biển Đông như thế nào?
Trả lời:

– Biển Đông là biển lớn, có vị trí chiến lược quan trọng. Diện tích khoảng 3,5 triệu km², được bao bọc bởi 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysa, Singapo, Indonexia, Bruney và Philippin. Là tuyến đường hàng hải huyết mạch, giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới. Hàng ngày có khoảng 300 tàu vận tải loại lớn qua lại, chiếm ¼ lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới, chuyên chở ½ sản lượng dầu thô và các sản phẩm toàn cầu, có nguồn tài nguyên thủy sản, dầu khí và khoáng sản rất lớn.

– Biển và hải đảo ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế to lớn, mở ra một không gian sinh tồn mới, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mỗi nước. Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung đó vì nước ta là quốc gia có vùng biển và các đảo, gồm cả đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong biển Đông.

2/ Hỏi: Vùng biển và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam có đặc điểm như thế nào?

Trả lời:

– Vùng biển Việt Nam: Bờ biển nước ta dài hơn 3.260 km, có diện tích khoảng trên 1 triệu km², trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước, có 28 tỉnh, thành phố giáp biển. Vùng biển nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.

– Quần đảo Hoàng Sa: Gồm 30 đảo, bãi đá, cồn, san hô và bãi cạn, nằm trên vùng biển có diện tích khoảng 16.000 km², cách đảo Lý Sơn của ta khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý. Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10 km².

– Quần đảo Trường Sa: Gồm hơn 100 đảo, bãi đá, cồn, san hô và bãi cạn, vùng biển có diện tích rộng khoảng 160.000 – 180.000 km², cách Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 243 hải lý, cách đảo Phú Quý (Bình Thuận) khoảng 203 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 585 hải lý. Diện tích toàn bộ phần nổi của quần đảo khoảng 10 km².

3/ Hỏi: Vai trò của biển Đông và các đảo của nước ta có tầm quan trọng như thế nào trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước?

Trả lời:

– Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế biển, có 90 cảng biển lớn, nhỏ; 125 bãi biển có cảnh quan đẹp; tổng trữ lượng dầu khí dự báo địa chất của thềm lục địa khoảng 10 tỉ tấn; là môi trường sống của 11.000 loài sinh vật, trữ lượng hải sản khoảng 3,5 triệu tấn và hơn 6 vạn hecta ruộng muối biển; tài nguyên khoáng sản có 35 loại hình… Hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta đều gắn liền với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận tải, công nghiệp tàu thủy… quy mô kinh tế biển và ven biển đạt 48% GDP cả nước (năm 2007) đóng góp to lớn vào quá trình phát triển đất nước.

– Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết “Chiến lược biển Việt Nam năm 2020” với mục tiêu: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn…”. Bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4/ Hỏi: Cơ sở lịch sử – thực tiễn nào để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?

Trả lời:

– Cho đến thế kỷ XVII, 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo vô chủ. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã tổ chức “Đội Hoàng Sa” hàng năm ra Hoàng Sa thu lượm hải vật, đánh bắt hải sản, đo vẽ, trồng cây và dựng mốc trên đảo, đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tổ chức thêm “Đội Bắc Hải” ra Trường Sa làm nhiệm vụ như “Đội Hoàng Sa”.

– Liên tục từ đó, Việt Nam đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền trên 2 quần đảo như: Năm 1925 duy trì tuần tra trên đảo, đưa quân đội trú đóng; năm 1933 – 1938, thành lập đơn vị hành chính, đặt cột mốc, xây hải đăng, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện; lên tiếng phản đối các nước nêu yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa; năm 1951, khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị San Francisco mà không gặp phải ý kiến phản đối nào; năm 1956 quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy và năm 1961, chuyển quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên về tỉnh Quảng Nam quản lý; năm 1977 tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; năm 1982 thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng; năm 1994 tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982, năm 2003, ban hành Luật Biên giới quốc gia, tháng 4 năm 2007 thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện đảo Trường Sa. Hiện nay, huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa… Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

– Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu hòa bình, quản lý liên tục, phù hợp với các quy định của luật pháp Quốc tế đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam vào ngày 21 tháng 6 năm 2012.

5/ Hỏi: Luật Biên giới quốc gia quy định những vấn đề gì?

Trả lời:

Luật Biên giới quốc gia quy định về biên giới quốc gia:

– Chế độ pháp lý, bảo vệ biên giới quốc gia và khu vực biên giới.

– Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và khu vực biên giới.

– Chế độ pháp lý và bảo vệ vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước Quốc tế khác mà Việt Nam ký kết gia nhập.

6/ Hỏi: Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 1 Luật Biên giới quốc gia: Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hòang Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

7/ Hỏi: Luật Biển Việt Nam quy định những vấn đề gì?

Trả lời:

Luật Biển Việt Nam quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; họat động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

8/ Hỏi : Vùng biển quốc tế là gì?

Trả lời:

Là tất cả các vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác, nhưng không bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

9/ Hỏi: Đảo, quần đảo?

Trả lời:

– Đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.

– Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau.

Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

10/ Hỏi: Cơ sở pháp lý nào để khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam?

Trả lời:

Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)

– Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 có 162 quốc gia phê chuẩn và tham gia (tính đến ngày 03 tháng 06 năm 2011). Công ước Luật Biển năm 1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương. Công ước Luật Biển năm 1982 nêu mỗi quốc gia ven biển có 5 vùng biển, bao gồm: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

– Năm 1994, Quốc hội nước ta đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Bằng việc phê chuẩn này, chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

Luật Biển Việt Nam

– Ngày 21 thàng 06 năm 2012, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Đây là hoạt động lập pháp cần thiết để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

11/ Hỏi: Đường cơ sở dùng để làm gì?:

Trả lời:

Theo quy định của Luật Biển Việt Nam: Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

12/ Hỏi: Luật Biển Việt Nam có quy định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế. Vậy nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế là gì?

Trả lời:

– Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

– Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1,852 km) tính đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới của ngoài lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.

– Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.

– Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

13/ Hỏi: Việt Nam chúng ta có những hoạt động thực thi như thế nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở biển Đông?

Trả lời:

– Lập trường nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Chúng ta đã chủ động tích cực triển khai đồng bộ một loạt công tác nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc bảo vệ chủ quyền và lợi ích của ta trên biển Đông, cụ thể:

1. Ban hành chiến lược biển đến năm 2020: Chiến lược Biển Việt Nam thể hiện rõ quan điểm hợp tác quốc tế về biển, góp phần xây dựng vùng biển hòa bình, hợp tác, hữu nghị, cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Hợp tác quốc tế về biển phải nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam, khai thác biển có hiệu quả và phát triển bền vững biển; trong đó chú ý bảo đảm an ninh chung và giải quyết những tranh chấp trên biển.

2. Về pháp lý: Chúng ta đã xây dựng và trình Liên Hợp quốc báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Bắc, đồng thời phối hợp với Malayxia xây dựng và trình Liên Hợp quốc báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa phía nam. Năm 2003, ban hành Luật Biên giới quốc gia, năm 2012, ban hành Luật Biển Việt Nam.

3. Về quản lý hành chính: Đã triển khai thành lập huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng; huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa; trong đó có thị trấn Trường Sa và 2 xã Song Tử Tây, Sinh Tồn; hiện có nhiều hộ gia đình sống; xây dựng nhà khách, nhà tưởng niệm Bác Hồ, dựng tượng Quốc công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, xây dựng chùa…; triển khai một số dự án quan trọng như nuôi trồng hải sản, chương trình năng lượng sạch và hệ thống chiếu sáng ở các đảo trên huyện đảo Trường Sa; đã phủ sóng truyền hình, đài phát thanh, điện thoại di động lên toàn bộ biển Đông. Nhiều đoàn trong cả nước thường xuyên ra thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang sinh sống, làm việc trên quần đảo Trường Sa.

4. Về kinh tế: Các hoạt động về thăm dò, khai thác dầu khí của chúng ta đã và đang diễn ra bình thường, chúng ta đang tiếp tục duy trì hợp tác với các tập đoàn dầu khí lớn của Nga, Mỹ, Canada, Úc, Ấn độ, Nhật, Hàn Quốc trên vùng đặc quyền 200 hải lý và thềm lục địa… Các ngành chức năng và các địa phương cũng đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ đối với ngư dân khai thác trên biển. Ngư dân ta tiếp tục đánh bắt hải sản ở khu vực đảo Hoàng Sa, Trường Sa; sản lượng khai thác của khối tàu cá xa bờ chiếm 40% tổng sản lượng khai thác hải sản của cả nước.

5. Về quốc phòng, an ninh: Thành lập lực lượng Cảnh sát Biển, Vùng II Hải quân… Hải quân, không quân thường xuyên được nâng cao năng lực phòng thủ và tăng cường hoạt động tuần tra trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam. Các lực lượng tuần tra, kiểm soát của bộ đội biên phòng, cảnh sát biển thường xuyên triển khai các công việc để quản lý các hoạt động trên biển, xua đuổi, xử lý hành chính các vụ việc tàu cá nước ngoài vi phạm vùng biển của chúng ta.

6. Về ngoại giao: Chúng ta kiên trì đấu tranh có lý, có tình ở các cấp khác nhau, song phương và đa phương, qua cả kênh chính thức và không chính thức; kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh dư luận và vận động quốc tế. Chúng ta đã chủ động vận động qua nhiều kênh, nhiều cấp khác nhau, kể cả cấp cao, làm rõ lập trường đúng đắn của chúng ta; phê phán yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc, ủng hộ thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC: Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea), tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC: Code of Conduct for the East Sea) nhằm duy trì hòa bình, ổn định ở biển Đông… Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng Quốc tế, tạo thêm sức mạnh cho ta trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

14/ Hỏi: Tranh chấp biển Đông ra sao?

Trả lời:

– Năm 1947, chính quyền Trung Hoa dân quốc xuất bản bản đồ “Nam Hải chư đảo” và được in lại năm 1950 trên bản đồ “Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc phân tỉnh tinh đồ” thể hiện “đường lưỡi bò” chiếm tới 80% diện tích biển Đông. Việc vẽ một đường đứt khúc mơ hồ để đòi chủ quyền biển như vậy là vô căn cứ, trái với luật pháp và tập quán quốc tế, không có cơ sở thực tiễn và lịch sử, không được các quốc gia khu vực và thế giới thừa nhận.

– Trong năm 2012, Trung Quốc tích cực tiến hành các hoạt động củng cố yêu sách chủ quyền bằng những hành động như:

+ Công bố thành lập thành phố Tam Sa; phê chuẩn một loạt văn bản pháp lý, như: “quy hoạch chức năng biển toàn quốc” bao gồm “vùng chức năng biển tại Trường Sa và Hoàng Sa, chính thức khai trương chuyến du lịch tới Hoàng Sa, đơn phương ban hành lệnh cấm đánh cá tại biển Đông.

+ Đẩy mạnh hoạt động kiểm soát thực tế trong phạm vi “đường lưỡi bò”.

+ Tập trung gây sức ép ngoại giao ở nhiều cấp, kể cả cấp cao, tập trung vào Philippin, Việt Nam.

+ Các báo chí Trung Quốc, nhất là các trang mạng, tiếp tục có những bài viết có nội dung xấu, mang tính kích động.

– Những hành động này là nguyên nhân chủ yếu và sâu xa làm cho tình hình biển Đông trở nên phức tạp; Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp Quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002.

15/ Hỏi: Những nước nào tranh chấp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam?

Trả lời:

– Trung Quốc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Sau cuộc đổ bộ chớp nhoáng lên Hoàng Sa năm 1909, Trung Quốc bắt đầu quan tâm tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này.

– Tháng 4 năm 1956, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt các đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, lợi dụng tình hình ở Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

16/ Hỏi: Các nước nào đang tranh chấp tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam?

Trả lời:

Có 5 nước 6 bên tranh chấp tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện trạng đang bị Trung Quốc chiếm giữ 7 đảo, đá; Philippin chiếm giữ 9 đảo; Malayxia chiếm giữ 7 đảo; Brunay cũng nêu yêu sách chủ quyền nhưng không chiếm giữ đảo, bãi đá nào; Đài Loan (lãnh thổ-bên) chiếm giữ đảo Ba Bình và cắm mốc tại bãi cạn Bàn Than; Việt Nam thực hiện chủ quyền và đóng giữ 21 đảo (gồm 9 đảo nổi, 12 đảo đá ngầm với 33 điểm đóng quân).

* Trung Quốc: Với yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc muốn độc chiếm cả quần đảo Trường Sa, đặt tên quần đảo Trường Sa của Việt Nam là Nam Sa thuộc thành phố Tam Sa.

* Philippin: Năm 1956, một người Philippin đến Trường Sa, vạch một đường bao quanh và tuyên bố sở hữu quần đảo này, đặt tên là Kalayaan (vùng đất tự do). Năm 1979, Tổng thống Philippin đã ký sắc lệnh sát nhập toàn bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa lớn) vào tỉnh Palawan của Philippin với lập luận rằng các đảo này thuộc Philippin vì nó cận kề về địa lý và quan trọng cho an ninh, quốc phòng của Philippin.

* Malayxia: Năm 1979, Malayxia xuất bản bản đồ công bố ranh giới thềm lục địa của Malayxia bao trùm lên phía nam quần đảo Trường Sa với lập luận các đảo, bãi đá ở Trường Sa thuộc về Vương Quốc cổ của Malayxia và nằm trong phạm vi yêu sách thềm lục địa của Malayxia.

* Brunay: Năm 1988 và 1993, Brunay công bố bản đồ yêu sách thềm lục địa ở biển Đông trùm lên một phần nhỏ ở phía Nam quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Brunay không có yêu sách hay chiếm đóng đảo, bãi đá nào của quần đảo Trường Sa.

* Đài Loan: Đài Loan hiện đang chiếm đóng đảo Ba Bình và đã xây dựng công trình trên bãi cạn Bàn Than, cách đảo Ba Bình khoảng 0,4 km vào năm 2004. Đài Loan đang xúc tiến nâng cấp đường băng sân bay và hệ thống giao thông trên đảo Ba Bình (Đài Loan gọi là Thái Bình).

17/ Hỏi: Cơ sở nào để giải quyết tranh chấp về biển, đảo?

Trả lời:

* Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS): Công ước về Luật Biển năm 1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương; khi liên quan đến các tranh chấp có thể nảy sinh giữa các thành viên, đòi hỏi các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình theo đúng quy định của Hiến chương Liên Hợp quốc.

* Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC):

– Các bên khẳng định lại cam kết đối với những mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Luật Biển 1982, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á. Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của luật pháp quốc tế, là những quy tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia. Các bên liên quan cam kết giải quyết những tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực.

– Ngoài ra các bên cam kết tìm ra những phương cách để tạo dựng sự tin cậy và lòng tin trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình; tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định; trên cơ sở Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002. Các nước liên quan khẳng định tiếp tục đàm phán để thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) nhằm thúc đẩy hơn nữa hòa bình và ổn định trong khu vực.

18/ Hỏi: Nhà nước chúng ta đã có những chủ trương gì trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay?

Trả lời:

– Chủ trương của chúng ta là giải quyết các tranh chấp ở biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC), Luật Biển Việt Nam. Yêu cầu chiến lược của chúng ta là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ quan hệ hữu nghị hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác. Chủ trương cụ thể là:

1/ Trong xử lý vấn đề biển Đông, cần giữ vững độc lập, tự chủ, gắn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia với giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

2/ Tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; kiên định bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế, tăng cường thực hiện và bảo vệ kinh tế biển, nhất là hoạt động dầu khí và đánh bắt cá trong phạm vi 200 hải lý; bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

3/ Duy trì nguyên trạng biển Đông; bảo vệ quyền đánh bắt cá chính đáng của ngư dân chúng ta trên biển Đông. Chúng ta chủ động, tích cực cùng các bên liên quan đàm phán tìm giải pháp cơ bản lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được đối với các khu vực tranh chấp.

4/ Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác Việt – Trung và các nước có liên quan, phấn đấu không để xảy ra xung đột quân sự ở biển Đông; tránh các vấn đề tranh chấp làm đổ vỡ quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc.

Phương châm là vận dụng tổng hợp các biện pháp chính trị, ngoại giao, dư luận, pháp lý, quân sự trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì nguyên tắc, đồng thời xử lý các tình huống, các vấn đề cụ thể một cách bình tĩnh, chủ động.

19/ Hỏi: Đến nay công tác biển, đảo của chúng ta đã đạt được kết quả như thế nào?

Trả lời:

Công tác biển, đảo luôn được đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, luôn được sự quan tâm, ủng hộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân cả nước, kể cả đồng bào chúng ta định cư ở nước ngoài; luôn có sự phối hợp chặt chẽ của toàn bộ hệ thống chính trị. Chính vì vậy, mặc dù tình hình biển Đông diễn biến hết sức phức tạp, nhưng công tác biển, đảo của chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, thể hiện:

1/ Khẳng định rõ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển; giữ vững các vùng biển, đảo do chúng ta quản lý; duy trì được hòa bình và ổn định ở biển Đông.

2/ Các hoạt động kinh tế, đặc biệt là dầu khí và nghề cá trên biển Đông vẫn được triển khai thường xuyên; lợi ích quốc gia được giữ vững.

3/ Giữ được cục diện quan hệ hữu nghị hợp tác với Trung Quốc và các nước liên quan.

4/ Chúng ta đã tuyên truyền để dư luận quốc tế ngày càng hiểu rõ hơn lập trường đúng đắn, chính nghĩa của chúng ta trên biển Đông; hiểu rõ tính phi lý trong yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

5/ Cơ bản tạo được sự đồng thuận trong xã hội, đa số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý vấn đề biển Đông.

20/ Hỏi: Chúng ta cần thể hiện thái độ, hành động như thế nào để góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ biển, đảo Việt Nam?

Trả lời:

– Tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, mọi người nhận thức rõ giải quyết vấn đề tranh chấp biển Đông là lâu dài và hết sức khó khăn, gian khổ, cần kiên trì, bền bỉ, không nóng vội; cần phối hợp đồng bộ, tổng hợp, nhiều kênh, nhiều biện pháp, tạo nên sức mạnh tổng hợp. Phấn đấu bằng mọi cách xử lý vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, tạo môi trường ổn định để phát triển đất nước. Chúng ta kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững nguyên tắc, đồng thời linh hoạt, khôn khéo, xem xét vấn đề một cách khách quan, cố gắng cùng tìm giải pháp các bên có thể chấp nhận được.

– Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; thực hiện chiến lược toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ, ngành trung ương và các địa phương; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, kịp thời đánh giá và đề xuất các biện pháp xử lý tình hình và diễn biến phức tạp ở biển Đông, không để bị động, bất ngờ xảy ra.

– Với Trung Quốc, chúng ta tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện; tăng cường xây dựng, củng cố lòng tin, tạo cơ chế đối thoại, giải quyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình. Trong quan hệ với Trung Quốc, chúng ta kiên định nguyên tắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc, nhưng ứng xử khôn khéo, tránh để rơi vào thế đối đầu trực tiếp về quân sự. Thực tiễn cho thấy, nếu quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tốt đẹp thì các tranh chấp dễ giải quyết.

– Với thế giới, chúng ta công khai, minh bạch hóa phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền, lập trường, quan điểm chính nghĩa của Việt Nam chúng ta trong vấn đề biển Đông để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước ASEAN và quốc tế đối với chúng ta; bác bỏ yêu sách “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

Sáng 12/11/2013 (theo giờ New York), Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 đã tiến hành bỏ phiếu bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. 14 thành viên mới này là Việt Nam, Algeria, Anh, Ả rập Saudi, Cuba, Maldives (tái cử nhiệm kỳ 2), Macedonia, Mexico, Morocco, Namibia, Nam Phi, Nga, Pháp. Tất cả các thành viên này sẽ bắt đầu nhiệm kỳ làm việc 3 năm, bắt đầu từ ngày 1/1/2014.
*******
Đại Hội đồng LHQ
 Phiên họp ngày 12/11/2013 của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68

 Video Công bố kết quả bầu cử HĐNQ ngày 12/11/2013
Cuộc bỏ phiếu kín diễn ra trong không khí vô cùng hồi hội, đặc biệt là với khu vực Nam Mỹ và Châu Phi.
Tại khu vực Nam Mỹ có 3 quốc gia tranh 2 ghế. Cuba đã vượt lên đứng đầu khu vực, giành được 148 phiếu bầu, đánh bại 145 của Mexico và 139 cho Uruguay. Và như vậy, Uruguay bị loại.
Ở khu vực Châu Phi, Nam Sudan, quốc gia mới nhất của thế giới, đã thất bại trong nỗ lực để có được một trong bốn chỗ ngồi cho Châu Phi. Quốc gia này  chỉ được 89 phiếu, mức thấp nhất của bất kỳ quốc gia trong cuộc bầu cử. Nam Phi là quốc gia hàng đầu trong khu vực với 169 phiếu bầu, vượt qua Algeria 164 phiếu, Ma-rốc 163 phiếu và Namibia 150 phiếu.
Với việc Jordan rút lui, khu vực châu Á-Thái Bình Dương chỉ còn 4 quốc gia tranh đúng 4 ghế. Tuy vậy, sự hồi hộp ở đây cũng không hề giảm! Theo quy định, để trở thành thành viên HĐNQ thì các quốc gia này phải được ít nhất là 2/3 trên tổng số 192 thành viên LHQ ủng hộ, tức là số phiếu tối thiểu phải có là 97. Nếu không đạt số phiếu này thì quốc gia đó vẫn bị loại. Đặc biệt là ngay trước kỳ bỏ phiếu đã có không ít thế lực thù địch đã công khai lên tiếng kêu gọi các thành viên LHQ bỏ phiếu chống với Trung Quốc và Việt Nam. Động thái chính thức diễn ra ở Hoa Kỳ khi Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Dự luật Nhân quyền H.R. 1897 trong đó có một nội dung yêu cầu Ngoại trưởng Hoa Kỳ không bỏ phiếu cho Việt Nam và vận động các nước khác không bỏ phiếu cho Việt Nam. Dự luật này cần được Thượng viện thông qua và Tổng thống Obama phê chuẩn trước khi có hiệu lực, và hôm 09/9/2013 đã được đọc trước Ủy ban của Thượng viện sau đó chuyển sang Ủy ban Đối ngoại để cân nhắc. Vì vậy, việc bỏ phiếu đối với khu vực này đã trở thành mối quan tâm, theo dõi chặt chẽ nhất. Kết quả cuộc kiểm phiếu được công bố cho thấy: Trung Quốc- Siêu cường châu Á vẫn phải đứng sau Việt Nam, quốc gia đã thu được 184 phiếu so với 176 cho Trung Quốc. Số phiếu cho 2 quốc gia còn lại là 164 cho Maldives và 140 cho Ả-rập Xê-út.
Bỏ phiếu cho hai ghế Đông Âu, Macedonia được 177 phiếu, cao hơn 1 phiếu so với Nga với 176 phiếu.
Khu vực Tây Âu chỉ có 2 quốc gia tranh 2 ghế, kết quả: Pháp được 174 phiếu bầu và Anh được 171 phiếu bầu.
Nhìn về tổng thể, trong số 14 thành viên mới được bầu lần này, Việt Nam đã giành được số phiếu cao nhất: Với 184/192 nước tương đương với 95%! Thống kê cụ thể theo khu vực như sau:
+ Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương: Việt Nam 184, Trung Quốc 176, Maldives 164, Ả rập Saudi 140
+ Khu vực Nam Mỹ: Cuba 148 , Mexico 145
+ Châu Phi: Nam Phi 169, Algeria 164, Morocco 163, Namibia 150
+ Đông Âu: Macedonia 177, Nga 176
+ Tây Âu: Pháp 174, Anh 171
Việc Việt Nam được 95% các quốc gia thành viên Liên hợp quốc ủng hộ vào Hội đồng Nhân quyền cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…
Việc Việt Nam trúng cử với số phiếu cao cũng thể hiện vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế.
Kết quả này cũng là cú tát trời giáng cho Việt Tân cùng các thế lực thù địch ngoại bang và tay chân của chúng như Nhóm mạo danh “Mạng lưới Blogger Việt Nam” hay gọi tắt là nhóm “Tuyên bố 258”. Suốt nhiều tháng qua họ cùng các cơ quan truyền thông “quốc tế” lớn như BBC, RFA, VOA… không ngừng bịa đặt, vu khống về tình hình nhân quyền ở VN. Tất cả những nỗ lực đó đã thất bại thảm hại!
Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói thêm, một vài trang mạng, ví dụ trang KBC.NET, vừa đưa tin không chính xác v/v năm 2011 Việt Nam từng ứng cử vào HĐNQ nhưng đã thất bại. Đây là thông tin không chính xác. Từ trước tới nay, Việt Nam ứng cử vào Hội đồng này một lần duy nhất và đã thắng lợi vang dội. Việc tung tin bịa đặt vốn là việc làm quen thuộc của Việt Tân. Ngày 13/11/2012, trang Dân Làm báo- cơ quan ngôn luận của Việt Tân tung ra bài viết: “Việt Nam trượt Hội đồng Nhân quyền LHQ” khi thấy Việt Nam không có tên trong danh sách trúng cử năm 2012. Bài viết này được nhiều trang mạng/blog đăng lại. Thế nhưng, trên thực tế thì Việt Nam không hề ứng cử vào năm 2012! Trên báo Sài Gòn Giải phóng vào năm 2011 có đưa tin về phát biểu của đại diện Bộ Ngoại giao rằng Việt Nam sẽ ứng cử vào HĐNQ nhưng đó chính là sự chuẩn bị khá ký lưỡng cho kỳ bầu cử ngày 12/11/2013 chứ không phải Việt Nam đã ứng cử ngay trong năm 2011 hay 2012.
Lê Hương Lan

Mấy ngày qua, một số cơ quan truyền thông và diễn đàn trên internet làm rùm beng về cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” trao “giải thưởng” cho ba người Việt Nam hiện đang chịu án tù vì có hành vi vi phạm pháp luật! Qua cách đưa tin và ca ngợi những người này, cho thấy ý đồ và toan tính chống phá Việt Nam của những tổ chức đã bày đặt ra “giải thưởng”.

Chưa bao giờ các loại “giải thưởng nhân quyền” mà một số tổ chức nước ngoài trao cho một số cá nhân là người Việt Nam lại nhiều như mấy năm gần đây. Tính sơ sơ đã có gần chục loại “giải thưởng” được trao cho các đối tượng vốn có “thâm niên” trong hoạt động chống đối Ðảng và Nhà nước Việt Nam, như: “giải thưởng Hellman/Hammet” của tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), “giải thưởng Stephanus” của Hiệp hội quốc tế nhân quyền tại Ðức; “giải thưởng quốc tế Gruber” của Nghiệp đoàn luật sư quốc tế, rồi “giải nhân quyền Gwangju”… Bên cạnh đó, một số giải thưởng và danh hiệu như “Công dân mạng” của Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), “Phụ nữ tiêu biểu về bảo vệ quyền tự do ngôn luận” của tổ chức Tự do ngôn luận quốc tế (IFEX) có trụ sở tại Canada, giải “Phụ nữ can đảm nhất thế giới” của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ,… và gần đây, ngày 11-10, tại Westminter, California – Hoa Kỳ, cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” công bố trao giải thưởng “nhân quyền Việt Nam năm 2013” cho Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Lê Quốc Quân. Ðây là các giải thưởng mà nếu không có sự tâng bốc của “Việt Tân”, “đảng Dân chủ Việt Nam”,… cùng mấy cơ quan truyền thông như VOA, BBC, RFA, RFI,… và một số blog của một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí thì hầu như không ai biết tới. Read the rest of this entry »

Là người luôn dõi theo những bước đi, luôn tìm đọc những bài viết trên các diễn đàn của Nguyễn Văn Thạnh, Chủ tịch câu lạc bộ máu khó đông TP. Đà Nẵng trong thời gian qua đã để lại trong tôi nhiều những cảm xúc. Những xúc cảm đan xen, sự cảm phục cho tinh thần và nghị lực vươn lên, những cảm thông đối với một người có hoàn cảnh đặc biệt cùng những suy nghĩ, lo lắng về những việc làm, những hành động của anh trong suốt chặng đường kể từ lúc tôi biết và quan tâm tới anh. Read the rest of this entry »

Thế là cũng qua đi những khoảnh khắc của sự chờ đợi. Cuộc dã ngoại được loan truyền rộng rãi trên mạng internet về những điều cao cả, thanh cao: “Phổ cập quyền con người”, nhưng ngược lại, kết quả của nó khiến nhiều người không khỏi thất vọng.

Những người khởi xướng đã nhân danh nhóm “Chúng ta – Công dân tự do” phát động cho cái gọi là “ phổ cập quyền con người” mà họ ám chỉ rằng trong cái thể chế của sự đơn đảng mà họ đang sống chưa thể đáp ứng được. Họ cũng khéo chọn cái ngày khá đẹp (5/5), thay vì ngày 11/5 (ngày nhân quyền cho VN) như dự kiến… để kêu gọi tụ tập, vừa là ngày chủ nhật (là ngày nghỉ), vừa là ngày có những con số trùng hợp rất ấn tượng. Sự chuẩn bị cũng khá chu đáo từ những cuốn sách, tờ rơi, máy ảnh, máy quay phim…bởi những con người trẻ tuổi, năng nổ và có điều kiện về thời gian do… thất nghiệp.

Ước mong và công sức của họ bỏ ra không phải là ít, nhưng việc làm của họ vốn dĩ chẳng giống ai nên đã tạo nên một màn kịch hết sức kệch cỡm, khó coi. Xin điểm qua một vài gương mặt điển hình liên quan việc khởi xướng cuộc “dã ngoại” ấy:

Nhân vật thứ nhất: Nguyễn Hoàng Vy

 

Sinh năm 1987, chưa chồng nhưng đã có một con, có người nghi ngờ đứa con đó là hậu quả của thời nông nổi tin yêu vào những lời đường mật qua mạng của cô gái trẻ, nhưng có người phản biện cho rằng đó là sản phẩm Chúa ban cho sau những lần bị “chăn dắt” luân phiên bởi hai vị LM còn khá trẻ.NguyenHoangVi-2

Tham gia đội quân thất nghiệp do lười lao động đã mấy năm nay. Công việc hằng ngày của Vy là viết bài chửi chế độ, chửi công an, chửi tất tần tật những người mà Vy xem là cầm quyền.

Nơi nương tựa cho mẹ con Vy kể cả phần hồn và thể xác hiện nay là DCCT, trực tiếp “chăn dắt” là hai ngài LM trẻ tuổi thay phiên nhau là họ Đinh và họ Lê.

Mỗi khi có sự kiện, mà cô đánh hơi sẽ có thể dẫn đến va chạm với chính quyền, ngay lập tức cô lao vào như con thiêu thân trong bóng đêm nhìn thấy ánh sáng ngọn đèn dầu, bởi chỉ có làm thiêu thân thì cô mới được các vị chủ chăn DCCT hoan nghênh, có làm thiêu thân thì các nhà tài trợ trời Tây mới rủ lòng, nhón tay làm phúc. Đó mới đích thị là cuộc sống của cô.

Gốc là người xứ Quảng, trước đây Vy là cô bé ngoan, học khá giỏi, khá sắc sảo. Nhưng sau một vài lần va vấp tình trường bởi sự cả tin vào những lời đường mật trên mạng, cô đã phải trở về với chính cô nhưng thê thảm hơn sau những cuộc phiêu du đầy mạo hiểm.

Cô là một trong số những người nhanh chóng hoà nhập cộng đồng cư dân mạng tại Việt Nam, là một trong số không nhiều người đầu tiên ở VN biết đến chat, email, pantalk, skype…và cũng là một trong số những blogger có tiếng. Nói về blog, cô không nổi tiếng về khả năng viết như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, nhưng trái lại cô lại luôn tạo dựng được những sự hiện hot để thu hút sự quan tâm của dư luận nên pageview của cô cũng đều đều tăng số lượng truy cập.

Là người công giáo, với bản tính ngang bướng và phóng túng nên sau một thời gian tạm cư tại TPHCM, Vy nhanh chóng tìm đến gửi phần hồn nơi tổ nhện DCCT thay vì vào Dòng thánh chính giáo khác. Ngưu ắt tìm đến với ngưu, mã thời tìm về với mã. Cuộc đời Vy có những bước đổi thay kể từ ngày quyết định gửi hồn cho quỷ.

Thêm vào đó, các cặp mắt đỏ Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (Việt Tân) đã đưa nàng vào tầm ngắm, bẫy tình- tiền cũng được bủa giăng. Nhưng cái khác biệt của nàng là bởi tình nàng đã đẫy, nàng cũng đá quá chán ngán với món tình qua mạng từ sau những thương đau vấp váp thời trẻ thơ, nên nàng chỉ chọn tiền và sau đó là danh đều làm thú vui tao nhã.

Sau vài lần nhận tiền của các chàng Việt Tân, kiếp thiêu thân của nàng dọc ngang xông pha đả thủ. Nàng tập hợp được một nhóm ô hợp trẻ xuất thân đều là những blogger, faceman… dưới chiêu bài chống TQ, lập ra cái gọi là nhóm No U tại TPHCM. Trong những lần phát kiến biểu tình, nàng luôn là người năng nổ nhất, chính thế nên nàng trở thành người được các anh an ninh quan tâm nhất. Những vết thương, sự lăng nhục chẳng biết có hay không nhưng được không ít cư dân mạng tiếp tay xuyên tạc chính từ sự ưu ái này của cơ quan an ninh, mà trực tiếp do nàng kể, show ra … để bàn quan thiên hạ biết.images

Lại nói về kỹ nghệ vu vạ, không thể không nhắc đến vai trò của hai vị LM trẻ họ Đinh và họ Lê. Thông qua cái gọi là Truyền thông công giáo (VRNs) để sẵn sàng PR cho bất kỳ nhân vận nào có hành vi chống lại chính quyền. Thông qua các phương tiện của mình, họ tự cho mình cái quyền làm phóng sự hình, phóng sự mạng để đăng tải thông tin theo chủ quan của họ mà hầu hết các bản tin khai thác những xung đột của người dân nói chung số manh động cực đoan nói riêng với chính quyền sở tại.

Nguyễn Hoàng Vy chẳng phải là một ẩn số gì mà chính là một quân cờ trong bàn cờ dân chủ mà người đánh cờ ở đây là những vị chủ chăn DCCT. Tiếc rằng Vy không biết có nhận ra không, nhưng Vy hiến dâng tuổi trẻ của mình cho sự cực đoan bởi cuồng tín đó. Dã ngoại nhân quyền tại TPHCM là một màn tiếp theo của ván cờ “Công dân tự do”, có lẽ sẽ thua non, nhưng trước khi thực sự chấp nhận thua, chúng ta hãy quan sát để biết thêm những quân cờ khác nữa…Để có được một vé tỵ nạn tại Hoa Kỳ, hẳn Vy sẽ chưa dừng lại…hãy chờ xem!

Nhân vật thứ 2: Hoàng Dũng

Hoàng Dũng sinh năm 1979, trước từng làm việc trong một công ty chuyên về lĩnh vực quảng cáo tại Quận Phú Nhuận (TPHCM). Dũng đã một lần lập gia đình, chưa có con, tuy nhiên không rõ tính khí thất thường hay máu me tìm của lạ, hay vì bản tính xăng pha nhớt mà Dũng bị vợ bỏ.

images

Bước qua năm 2012, công ty gặp khó khăn, khách hàng ít… vì nhàn rỗi nên la cà trên mạng và gặp chàng Lê Thăng Long với ý tưởng “làm cho quyền con người ngày càng được cải thiện ở VN”,  Dũng mừng rỡ như tìm ra con đường cách mạng cho mình, cho dân tộc mình, anh quyết dấn thân khi anh biết chính thức mình bị sa thải và trở thành kẻ thất nghiệp.

Dũng gặp Long đồng điệu quá bất ngờ: cùng thất nghiệp, cùng có gương mặt nghệt nghệt như mới trốn về từ nhà thương điên Biên Hoà vậy. Công bằng thì hai anh em nhà này chất con người cũng lành, không phá phách, không hung hăng, cũng chẳng bon chen, ghanh đua, hơn thua… như các nhà rận chủ khác.

Đầu tiên, trong vai trò người sáng lập Phong trào CĐVN, phát huy sở trường trên lĩnh vực quản cáo, Dũng đã rất thành công khi phát tán poster, rải tờ rơi cho cuộc thi “Quyền con Lừa của tôi” do PTCĐVN phát động, những hình ảnh chiến tích này nhanh chóng được chuyển cho chàng Nguyễn Công Huân ngồi phòng lạnh xứ Đan Mạch, rỉ ra post lên mạng, rêu rao thành tích của Phong trào.

Sau chiến tích ấy, Dũng được Phong trào tín nhiệm lắm, bơm thêm tiền để thực hiện tiếp những phi vụ mới.

Chiến tích thứ hai mà Dũng lập được là phát tán cuốn sách “Câu chuyện về quyền con ruồi”, xuất bản tại Huê Kỳ, với số lượng tương đối, hầu hết những gương mặt hung hăng của làng rận chủ đều nhận được.

Sau lần này thì uy tín của Dũng lên vượt bậc, tiền cũng được bơm thêm một bậc. Phong trào giao tiếp cho Dũng việc mới là liên kết với nhóm lau chau No U  để thực thi các hành động cụ thể nơi quốc nội.

Đang rảnh rỗi, không tình cũng chẳng tiền nên việc gì Dũng cũng nhận, đi đâu cũng sẵn sàng đi, gặp ai cũng sẵn lòng gặp.

Để thực hiện nhiệm vụ mới này, Dũng nhanh chóng tiếp cận nhóm No U tại TPHCM, gặp Nguyễn Hoàng Vy và các thành viên nhóm này như cá thả ra sông, Dũng hăng hái hẳn lên, xông pha phát động nhiều hoạt động cụ thể thiết thực. Khi Hoàng Vy phát động nhóm “Chúng ta – Công dân tự do”, Dũng cả mừng, biến ngay thành ý tưởng “dã ngoại”, Vy cũng hồ hởi không kém vì đã lâu rồi chẳng nghĩ thêm được trò gì mới phá rối chính quyền nên bắt tay hợp tác liền. Nhưng chưa đủ tự tin, cả hai tìm gặp cây đại thụ trong làng rận chủ là Nguyễn Đan Quế để xin thỉnh giáo (sẽ giải thích thêm khi viết về Quế).

Dũng thực thi ý tưởng bằng chuyến đi xuyên Việt ngoạn mục, nhắm thẳng Thủ đô tiến bước.

Khùng khùng, không vợ, chẳng con,

Quyết chí lên non xây lâu đài cát

  Trong những ngày tới Dũng sẽ làm gì, làm được gì, hãy chờ xem…

Nhân vật thứ 3: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

images

Nguoi dan ba xau xa cua nam 2013

Quỳnh là người đàn bà có gương mặt khá xấu, với hai cái răng cửa ương bướng cứ ngày một nhô ra, bất chấp chủ nhân của chúng muốn hay không muốn; đôi mắt to nhưng không phải to đẹp mà có thể bởi chứng cận thị, đeo kính lâu ngày, nên giống như hai chiếc răng cửa, cứ lồi ra mỗi ngày thêm lớn.

Quỳnh được biết đến không phải bởi gương mặt ấn tượng mà do chị ta có được khả năng điều khiển cây bút khá tốt. Từ những năm 1999, cùng với phong trào viết blog trong nước thì Quỳnh sớm gây được sự chú ý với cái tên khá dung dị nhưng ấn tượng: “mẹ Nấm”. Lúc đầu chị cũng chỉ tập tành để viết lên những tình cảm của người mẹ dành cho đứa con yêu đầu đời, dần dà lân la, chị quen với các blogger thuộc nhóm “CLB Nhà báo tự do” và bắt đầu sa đà vào viết lách các vấn đề chính trị, xã hội theo kiểu bày tỏ quyền tự do ngôn luận.

Với khả năng viết lách khá tốt nên chị sớm lọt vào mắt đỏ của các chàng Canh Tân cách mạng đảng (Việt Tân). Các chàng liền nhanh chóng giăng bẫy tình – tiền, chẳng bao lâu, cô nàng “mẹ Nấm” tính tình dễ thích nghi kia đã đều dính trọn cả hai thứ. Chỉ tội người chồng hiền lành, tốt bụng, đẹp trai của cô ả cứ tin vào sự chung thủy của vợ mình cho đến cái ngày vị Việt Tân phu nhân nổi máu hoạn thư, tả xung hữu đột trên mạng, khi biết chồng mình dang díu biển tình với cô nàng răng hô nơi thành phố biển. Chuyện tình của nàng với chàng Việt Tân chia lìa từ đó, người chồng hiền lành kia cùng đành lòng gạt xót thương con mà gác tình với mẹ.

Mẹ Nấm trở về cuộc sống độc thân một con từ đó. Ngày ngày, hai mẹ con dắt díu nhau cùng với cái “nhà máy” nước mía siêu-sạch với sản lượng gần 50 ly mỗi ngày, cũng đủ cho hai mẹ con đắp đổi qua ngày, nhưng thị nào đâu có chịu dừng lại ở đó.

images1

Dua be vo toi, vo tinh bi nguoi me keo vao cuoc

Chơi xa mà gặp hiểm nguy, chị đổi hướng tình – tiền ngay trong quốc nội. Kết quả của những cuộc chơi dã ngoại, “giã nội” khiến thị lại một lần nữa mang thai, một lần nữa chị sinh con nhưng lần này lại sinh ra một đưa bé “không chính chủ”. Sinh xong đứa thứ hai thì “nhà máy” nước mía của thị cũng chẳng buồn cho vận hành, chị quyết tâm đầu cơ vào lĩnh vực dân chủ, nhân quyền… mà đơn đặt hàng đầu tiên sau sinh con là cuộc “Dã ngoại của những cô cậu Đười ươi” kệch cỡm, được thị nhận đứng ra tổ chức tại công viên Bạch Đằng thành phố biển.

Con khát sữa, phận không chồng, làm những việc nặng nhọc không quen… chị sẽ tiếp tục làm gì đây nếu không phải là những việc làm phi pháp. Chờ xem nhé!

Quế đã lớn tuổi, không còn thuộc hệ lau chau như Vi, Dũng, Quỳnh. Nếu cách đây vài năm thì ba cái hình thức biểu tình phản đối TQ hay Dã ngoại nhân quyền như thế này sẽ chẳng mảy may làm Quế phải để mắt đến. Nhưng nay có khác, sau khi được Bùi Hằng, Dương Tân, Thu Trang đến nhà làm công tác tư tưởng triệt để thì Quế cũng dần nhận ra rằng gã cũng nên phải thức thời, nên khi Dũng và Vy xuất hiện Quế đã rất coi trọng. Gã cáo già trú ẩn trong hang đã mấy chục năm nay, cũng đã nhiều phen tung chiêu gầm gừ hòng đánh tiếng với dư luận, nhưng có thể những lúc đầu tiếng gầm rú đặc trưng của gã có lạ tai nên được những người gần đó quan tâm, sau riết thành quen thì chẳng còn ai màng tới. Nay Dũng và Vi tự thân tìm tới, gã cáo già nhẩm tính hơn thua: Ủng hộ thì được tiếng là giúp bọn trẻ con, tuy có mất chút thời gian nhưng bù lại thì tạo ra một loại âm thanh gầm rú mới sẽ “bắt tai” hơn và nhờ thế mà thiên hạ phen này sẽ phải nhắc đến gã nhiều hơn.images

Nghĩ thế nên gã nhanh chóng nhận lời khiến Dũng và Vi mừng phát khóc, chúng tự nhủ: quả là ngoài dự kiến, một “đại thụ dân chủ” còn nhận lời thân chinh dã ngoại, tự hạ mình đến tận “đại bản doanh DCCT” để ủng hộ tinh thần thì còn gì hơn được. Vì thế mà Dũng và Vi hưng phấn hẳn lên, ngày đêm làm việc không biết mệt.

Nhớ lại thời huy hoàng, gã đã cho ra đời đứa con tinh thần “Lộ trình 9 điểm”, những tưởng đó là những triết lý cao siêu nhất của Việt Nam để đưa dân tộc Việt Nam đến bến bờ hạnh phúc. “Lộ trình 9 điểm” cũng tồn tại được khá lâu, làm nên tên tuổi cho Nguyễn Đan Quế, là lực hút hấp dẫn để các quan thầy Hoa Kỳ mỗi bận ghé thăm Việt Nam không quên nhắc đến Quế. Nhưng thực chất, cái “lộ trình” ấy, những nhà dân chủ tại Việt Nam biết Quế viết lố nhưng vì đại cục mà chằng thèm hơn thiệt, vì thế mới để đất sống cho nó “sống” cho đến ngày ông Nguyễn Thanh Giang trong một bài viết với ý thức ca ngợi Quế, nhưng vô tình thử phân tích vài cái hay dở của “Lộ trình 9 điểm” thì đã gần như xoá sổ, kết liễu đứa con tinh thần này một cách đơn giản như đứa bé trở bàn tay. Tưởng hí hửng được khen, nhưng ông Giang nào biết Quế đau hơn bị hoạn, thế là hết: danh tiếng, tâm huyết, kỳ vọng… chỉ một lúc chợt vỡ tan như bọt biển.

Có người tỏ ý thắc mắc: Sao Quế lại được các quan thầy Hoa Kỳ quan tâm đặc biệt thế? Có biết bao nhà dân chủ khác nổi tiếng hơn, trình độ chính trị cũng hơn… mà lại không được quan tâm, thập chí còn không được để mắt tới?

Đơn giản thôi. Bởi Quế có một ông anh tên là Nguyễn Quốc Quân (vài vài ông anh ruột nữa) hiện ở Mỹ, ít nhiều cũng là người có quan hệ gần gũi với một số chính khách. Quân cũng thuộc nhóm người có tài đầu cơ chính trị, biết khai thác điểm yếu của chính khách là tranh thủ phiếu bầu của người Mỹ gốc Việt. Vì thế, với thâm niên và quan hệ tại Mỹ, Quân đã ít nhiều tạo ảnh hưởng…và vì thế, qua sự tác động ấy thì Quốc hội Mỹ gần như năm nào, dịp nào cũng được nhắc để nhớ đến cái tên Nguyễn Đan Quế và cái tổ chức hữu danh vô thực: “Cao trào nhân bản”.

Đức là một thanh niên to khỏe, từng là đảng viên CSVN. Trước đây Đức chí thú làm ăn, toan lo nghèo khó. Trong một lần tò mò ra xem đám rận chủ hô hào biểu tình núp danh nghĩa “chống Trung Quốc”, Đức cố lấn vào xem xem mặt thật của những kẻ hay hô hào trên mạng kia là ai thì… thật xui xẻo, cái vẻ mặt bợm trợn của Đức đã làm hại đến thân xác, thêm thái độ xấn tới như trên đời này chẳng có ai tồn tại, nên các bác công an lầm tưởng Đức là kẻ manh động, cực đoan liền mời lên “cùng đi xe buýt”. Đức vùng vằng nhằm giải thích về sự vô can, lại đúng lúc một vị đại úy công an bước từ trên xe bước xuống, bàn chân anh ta ghép với mặt Đức tạo nên một góc ảnh “cực đẹp”, góc ảnh đã đưa Đức từ một kẻ rỗi hơi, ngớ ngẩn trở thành “hero” ngay sau đó. Sự vô tình của Đức và vị công an kia đã tạo nguồn cảm hứng xuyên tạc cho các vị rận chủ – chí thức tha hồ thêm thắt, họ còn không chừa một từ nào đỉnh hơn để ngợi khen, như là: “cú đạp lịch sử”, “cú đạp vào mặt nhân dân, vào mặt dân tộc”… biến Đức từ một thằng dở hơn thành đại diện cho nhân dân, cho dân tộc Việt Nam mới oách chứ. Việc này với Đức có nằm mơ cũng không nghĩ là mình lại nhanh chóng được xưng tụng như vậy.image

Về nhà, lên mạng xem tin, bụng Đức càng mở cờ, Đức không ngờ tên tuổi mình lại nhanh chóng được tô son rực rỡ đến thế. Càng đọc, càng xem lại càng say. Càng say thì anh lại càng, ngất ngây mà nảy sinh tình cảm yêu mến những người đã cho anh “cơ hội nổi tiếng”… Ngất ngây với ảo ảnh, tự sướng với viễn cảnh ảnh hùng…sướng quá hóa rồ, Đức quyết định bỏ đảng, bỏ nghề, quyết xả thân theo đuôi rận chủ, lập ngay blog “Đông Hải Long vương” để quy tập những bài viết như những xác thối ca ngợi mình… về nhâm nhi, ngắm nghía. Từ đó, hễ đánh hơi thấy có biểu tình, tụ tập là có Đức. Cuộc dã ngoại ngày 5/5 không hẹn mà gặp, Đức lại có cơ hội sánh vai cùng Bùi Hằng (người đã biến Đức trở thành đàn ông trong chuyến ngao du tại thành phố mang tên Bác) đi đầu dương khẩu hiệu.

Nguồn: Butluan.wordpress.com

ĐẾN HẸN LẠI LÊN

“Đến hẹn lại lên”, ngày 19/4/2013 vừa qua Bộ ngoại giao Mỹ lại công bố bản Báo cáo phúc trình thường niên về tình trạng nhân quyền của các nước trên thế giới. Bản báo cáo phản ánh những đánh giá của chính phủ Mỹ về tình hình nhân quyền của nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Triều Tiên, Syria… Đối với Việt Nam, bản báo cáo tiếp tục đưa ra những đánh giá thiếu khách quan và xuyên tạc “trắng trợn” tình hình nhân quyền tại Việt Nam như cho rằng “nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam kiểm duyệt chặt chẽ Internet, hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do tôn giáo của người dân, tấn công những tiếng nói chỉ trích nhà nước, theo dõi, trừng phạt, bắt bớ và kết án những nhà bất đồng chính kiến, nhất là các Blogger”. Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, trước đó một ngày, ngày 18/4/2013 Nghị viện Châu Âu cũng ban hành Nghị quyết khẩn cấp về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Tương tự như báo cáo nhân quyền của Mỹ, Nghị quyết của Nghị viện Châu Âu cũng chứa đựng những thông tin và nhận định hoàn toàn sai lệch về tình hình thực tế tại Việt Nam. Phản ứng trước Nghị quyết và bản báo cáo phúc trình này, người phát ngôn Bộ ngoại giao Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và thúc đẩy các quyền cơ bản của công dân. Mọi người dân được thực thi các quyền của mình trong khuôn khổ luật pháp. Mặc dù có những ghi nhận về một số thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người, báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ tiếp tục dựa vào các thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam và đưa ra những nhận xét không khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.”nhc3a2n-quye1bb81n-kie1bb83u-me1bbb9

Để làm rõ Việt Nam có vi phạm dân chủ, nhân quyền hay không cũng như sự thực ở các nước Mỹ, phương Tây có thật sự tôn trọng nhân quyền hay không thiết nghĩ cần xem xét mấy vấn đề sau:
– Thứ nhất, tôn trọng quyền con người và đảm bảo quyền con người được thực hiện đầy đủ luôn là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như đảm bảo thực hiện trong thực tiễn. Điều này được thể hiện rất rõ trong các đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như được thể chế hóa trong văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đó là Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Hiến pháp Việt Nam năm 1992, văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam, đã ghi nhận một cách trang trọng, rõ ràng và toàn diện các quyền con người (tại các điều 2 và 50) và nội dung các quyền này đã được thể hiện xuyên suốt trong các chương, mục của Hiến pháp, đặc biệt được nêu tập trung tại Chương 5 về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (năm 2013), quyền con người cũng đặc biệt được nhấn mạnh và được quy định cụ thể (Điều 2 và Điều 15). Ngoài ra, các quyền cụ thể của con người còn được quy định rõ ràng tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” …Ngoài ra, các quyền tự do dân chủ, quyền con người quy định trong Hiến pháp đã không ngừng được cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy của Việt Nam.
Không chỉ quy định trong pháp luật mà quyền con người luôn được nhà nước Việt Nam đảm bảo trong thực tiễn. Điển hình như đối với quyền tự do báo chí, cho đến nay ở Việt Nam báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có báo chí. Hiện Việt Nam có 894 cơ quan báo chí với 759 báo in, 68 báo điện tử, 67 đài phát thanh truyền hình và hệ thống báo chí trên mạng Internet. Việt Nam còn là quốc gia có nhiều tôn giáo và nhiều loại hình tín ngưỡng, với hơn 20 triệu tín đồ tôn giáo, mọi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của tín đồ, chức sắc diễn ra bình thường. Đội ngũ chức sắc, nhà tu hành không ngừng tăng. Nhà nước Việt Nam không ngừng tạo điều kiện để các tôn giáo ở Việt Nam mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo quốc tế. Với những sự thật không thể “chối cãi” như vậy thì rõ ràng những luận điệu “Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền” chỉ là những đánh giá phiến diện, chủ quan và không xuất phát từ thực tiễn.
– Thứ hai, Mỹ là nước thường xuyên có những đánh giá thiếu khách quan, trung thực về tình hình nhân quyền tại Việt Nam nhưng ngay bản thân nước Mỹ cũng là nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất. Chúng ta còn nhớ sự kiện, bức màn bí mật của nhà tù Goan-ta-na-mô được hé lộ, đã tạo ra một sự phẫn nộ của hàng triệu người không chỉ ở nước Mỹ mà còn ở trên toàn thế giới. Nhà tù này được Chính phủ Mỹ đưa vào hoạt động từ năm 2002, là nơi giam giữ, thẩm vấn những nghi can khủng bố nhằm vào nước Mỹ, họ bị giam giữ và tra tấn với những thủ đoạn dã man như thời Trung cổ. Có khoảng 100 tù nhân được chuyển tới Goan-ta-na-mô sau khi chịu những cuộc thẩm vấn với những đòn tra tấn “rùng rợn”, tàn bạo của những sĩ quan Mỹ đã bị mắc bệnh trầm cảm hoặc tâm thần. Hoặc cũng khó ai có thể quên những vụ hành hạ, tra tấn, đánh đập của cảnh sát Mỹ đối với người dân da đen ngay chính trên đường phố…
Trong cuộc chiến tranh Iraq, vào tháng 3/2003, lấy cớ tìm kiếm vũ khí hủy diệt hàng loạt, bảo vệ an nguy của nước Mỹ, liên quân do Mỹ đứng đầu đã tiến hành cuộc chiến lật đổ chế độ của Tổng thống Saddam Hussein bất chấp nghị quyết của LHQ phủ quyết hành động này của Mỹ. Trong thời gian chiếm đóng, cuộc chiến của Mỹ đã làm hơn 100.000 dân thường Iraq chết, Mỹ không những không trấn áp được khủng bố mà Iraq còn trở thành một “địa bàn” cho khủng bố tung hoành. Sau này, không tìm thấy bằng chứng nào của sự tồn tại của vũ khí hủy diệt, chính phủ Mỹ đã buộc phải công khai thừa nhận nguồn tin Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt, nguyên nhân trực tiếp mà Mỹ nêu ra để tiến hành chiến tranh xâm lược Iraq là không chính xác. Chỉ vì một nguồn tin chưa chính xác (tất nhiên trong đó có ý đồ chính trị của người Mỹ) mà Mỹ đã bất chấp luật pháp quốc tế, phát động một cuộc chiến tranh can thiệp vào một quốc gia độc lập, có chủ quyền và gây nên biết bao đau thương, tang tóc cho người dân Iraq. Phải chăng đó là những giá trị nhân quyền mà người Mỹ vẫn thường tự hào?
Tóm lại, những luận điệu “Việt Nam vi phạm nhân quyền” thực ra chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện, sai sự thật về tình hình Việt Nam. Và suy cho cùng đây cũng chỉ là những hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” chống phá Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật, Việt Nam vẫn là một đất nước dân chủ và với những nỗ lực của Đảng, Nhà nước cùng toàn thể nhân dân, Việt Nam vẫn đang có những bước tiến mạnh mẽ trên con đường xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Người viễn xứ